A. Bệnh nướu răng – bệnh nha chu (gum diseases)
Bệnh
răng và bệnh viêm lợi kinh niên (Chronic gingivitis) có lẽ là những
nguyên nhân gây hôi miệng nhiều nhất, vì tạo điều kiện thuận lợi cho
các vi trùng phát triển tối đa. Khi nướu răng đã bị nhiễm độc, tình
trạng sẽ lây tới những hốc trống dưới nướu răng (pockets). Những hốc
rỗng này là nơi chứa đựng nhiều loại vi trùng kỵ khí luôn xung đột với
những kháng tố do cơ thể tạo ra. Đồng thời, những loại vi trùng G- gây
ra bệnh nướu răng cũng sản xuất ra những lượng chất sulfur đưa tới tình
trạng hôi miệng kinh niên (chronic bad breath) nếu tình trạng căn bệnh
bị kéo dài.
B. Bệnh viêm sưng miệng (stomatitis)
Các
tình trạng làm viêm khoang miệng hay lưỡi (vì bệnh hoạn, do dùng thuốc,
hay do cơ thể thiếu các sinh tố) cũng có thể gây hôi miệng vì khi
miệng, môi, lưỡi bị lở nứt thì thức ăn và vi trùng sẽ bám bíu vào những
chỗ nứt lở này.
C. Sâu răng (dental caries)
Thông
thường, sâu răng ít khi nào đưa tới tình trạng hôi miệng. Ngoại trừ khi
răng bị mẻ khoảng lớn làm cho thức ăn bị dắt vào và bị ứ đọng lâu ngày.
Những tình trạng khác như vết trám bị lồi lõm (faulty, overhanging
restorations) hoặc mão răng bị hở (leaking crowns) cũng có thể làm cho
thức ăn bám dính và ứ đọng lại.
D. Thuốc lá (smoking)
Hút
thuốc lá loại nào cũng làm hôi miệng và dễ phát hiện nhất. Chất thuốc
nicotine trong điếu thuốc lá bám trên mặt răng và lưỡi lâu ngày sẽ làm
cho răng, lưỡi thâm nâu (nicotine stain) và bề mặt răng trở nên rám,
tạo nên cơ hội thuận tiện cho trăm loại vi trùng bám vào chân răng và
mặt lưỡi (bacterial attachment) và làm hư hoại. Hơn nữa, những tình
trạng nguy cơ khác có thể xảy đến những người nghiện thuốc lá như là
bệnh nướu răng đưa tới sự rụng răng, ung thư miệng, cuống họng, phổi,
v.v…
E. Hơi thở buổi sáng (morning breath)
Trong
lúc ta ngủ ban đêm, nước miếng gần như ngừng chảy. Không có nhiều nước
miếng ban đêm, các vi trùng trong miệng sinh sôi nảy nở, tạo ra mùi
hôi. Mùi hôi này phát xuất từ những vi trùng kỵ khí (anaerobic
bacteria) ẩn núp trong những kẽ hở trong lưỡi và răng đã sản xuất ra
chất hydrogen sulfide.
F. Khô miệng (dry mouth)
Miệng
bị khô do bất cứ nguyên nhân nào cũng có thể làm miệng thêm hôi vì số
lượng nước miếng bị giảm đi. Nghiên cứu cho thấy chứng khô miệng làm
tăng thêm phần sản xuất những chất sulfur trong miệng. Những nguyên
nhân đưa tới chứng giảm nước bọt như là dùng thuốc men, trị bệnh bằng
tia phóng xạ (radiation therapy) chung quanh vùng quai hàm mặt,
Sjogrens Syndrome, hoặc thở bằng miệng. Sự giảm xuất nước bọt cũng có
thể xảy ra trong những người già vì những tuyến nước bọt bị bóp nhỏ
hoặc teo đi.
G. Bộ phần răng giả (mouth appliances)
Những
bộ răng giả, hoặc cố định (fixed) hoặc tháo ráp được (removable), là
nơi các vụn thức ăn trôi dạt vào và ẩn nấp khi ta ăn uống. Nếu lâu ngày
chúng ta không chà cọ, những vụn thức ăn hoặc cặn bã ấy sẽ hư thối và
tạo nên mùi hôi tanh. Nếu có thể, ta nên tháo gỡ và chùi rửa bộ răng
giả hoặc dùng sợi chỉ luồn dưới cầu răng ngày một lần vào buổi tối, để
phòng tránh sự ứ đọng thức ăn trong miệng.
H. Nhịn đói (hunger)
Người
bỏ bữa ăn vì lười ăn hoặc ăn kiêng cữ hay bị hôi miệng. Khi ăn, những
tác động nhai cắn làm nước miếng được tiết ra nhiều, rửa và giết bớt vi
trùng trong miệng, khiến miệng không bị hôi.
I. Thức ăn (foods)
Một
số các chất biến dưỡng từ thức ăn được hấp thụ vào máu, rồi thải ra
ngoài cơ thể qua đường phổi. Hành, tỏi, rượu, gây hôi miệng qua cơ chế
này. Người Việt Nam chúng ta có nhiều món rất ngon, như là mắm cà tôm,
mắm ruốc, khô mực, khô cá thiều v.v… nhưng những món này lưu trữ trong
hơi thở rất lâu nên khi ta ợ lên thì ôi thôi là… hôi!
J. Tuổi tác (aging)
Mùi
của hơi thở thay đổi theo tuổi tác. Ta hay bảo hơi thở của trẻ em thơm
như mùi sữa. Lớn lên, từ tuổi vị thành niên (adolescence) đến tuổi
trung niên (middle age), hơi thở đã kém thơm tho. Càng lớn tuổi, hơi
thở càng… có mùi, dù ta giữ gìn răng miệng đúng cách. Vì càng lớn tuổi,
các tuyến nước bọt trong miệng bị giảm nhỏ lại thì số lượng và phẩm
chất nước bọt cũng bị giảm đi đưa tới bệnh hôi miệng.