Thuốc (medications)
- Những thuốc dùng có tác dụng làm khô miệng hoặc ảnh hưởng tới những tuyến nước miếng đều có thể gây hôi miệng.
- Những
thuốc chống nghẹt mũi (anti-histamines), dùng chữa ngứa, chữa dị ứng
mũi (Claritin, Benadryl, Chlor-Trimeton, Dimetapp) làm cho mũi và miệng
khô khan. Các thuốc chữa bệnh tâm thần (anxiolytics, antidepressants,
antipsychotics) và thuốc chữa cao áp huyết (diuretics) có thể ảnh hưởng
ít nhiều tới những tuyến nước miếng.
Theo như nêu trên,
90% chứng bệnh hôi miệng phát xuất từ khoang miệng. 10% còn lại là do
những bệnh trong cơ thể gây nên. Các bệnh hệ thống, làm thay đổi hóa
học bình thường của cơ thể, tạo ra những chất dễ bay hơi đến các hệ bài
tiết hay phổi qua đường máu rời được thoát ra ở mồ hôi, nước bọt, các
dịch tiết hay khí thở gây ra mùi hôi.
1. Nóng sốt và thiếu nước (fever/dehydration)
- Nóng
sốt cao và thiếu nước trong cơ thể làm giảm sự tiết bài nước miếng đưa
đến tình trạng hôi miệng. Cơ thể bị thiếu các sinh tố như sinh tố A,
B12, chất sắt (Iron), chất kẽm (Zinc) sẽ làm miệng bị khô, nứt nẻ khiến
cho bã thức ăn và vi trùng dễ bám vào những chổ nứt nẻ này.
2. Bệnh tiêu hóa (gastrointestinal disorders)
- Nếu
nói tổng quát thì những tình trạng nào dẫn tới sự suy yếu (weakening)
hoặc ngăn cản (inhibition) việc khép đậy van thực quản như bệnh dội
ngược bao tử thực quản (gastroesophageal reflux disease), hẹp môn vị
(pyloric stenisis), hoặc thoát vị lỗ khuyết (hiatal hernia) đều dẫn tới
nguồn hôi miệng.
Ví dụ, người bị bệnh dội ngược bao tử
thực quản (gastoesophageal reflux disease). Trong trường hợp này, thức
ăn trong bao tử dội ngược lên thực quản, vì van đóng ở giữa thực quản
và bao tử bị yếu, khiến có thể bị hôi miệng. Vì van đóng bị yếu, thức
ăn ợ lên và các mùi hôi chua trong bộ tiêu hóa dội ngược lên thực quản,
rồi theo miệng thoát ra ngoài.
- Gần đây, một giả thuyết
khác được đưa ra cho chúng ta thấy sự liên hệ giữa bệnh hôi miệng và vi
trùng Helicobacter pylori trong bao tử – một tình trạng nhiễm trùng gây
nên bệnh loét bao tử và ung thu dạ dày. Dựa trên giả thuyết này, người
ta thấy khi dùng thuốc metronidazole thì đã làm tan biến mùi hôi trong
miệng và cũng đưa tới sự thay đổi hóa lượng số vi trùng trong miệng.
3. Bệnh tiểu đường (diabetes)
- Sự
liên hệ giữa bệnh tiểu đường và bệnh nướu răng đã được giới y nha sĩ
xác nhận rõ ràng từ nhiều năm qua. Thường thường trong những người mắc
bệnh tiểu đường, hệ thống mạch máu bị nghẽn tắc, nên việc lưu chuyển
các chất bổ dưỡng, dưỡng khí và các huyết cầu tới những bộ phận quan
trọng như tim, óc, mật và thận cũng bị ảnh hưởng. Cũng vì hệ thống mạch
máu bị nghẽn, việc máu lưu thông đến những mô chung quanh chân răng
cũng bị giảm đi, khiến nướu và xương hố răng bị hư hại nhanh hơn bình
thường.
- Nhiều dữ kiện cho chúng ta thấy bệnh nướu răng
biến nặng mau lẹ hơn nếu người đó cũng bị mắc bệnh tiểu đường. Thêm
nữa, theo kinh nghiệm quan sát, người bị bệnh tiểu đường thường hay có
nhiều những bọng mủ nhọt nổi chung quanh vùng nướu răng mà không có một
lý do gì chính đáng. Khi nhận ra những dấu chỉ này trong lúc khám răng,
người nha sĩ nên gửi người bệnh tới một bác sĩ y khoa để thử chất lượng
đường trong máu.
4. Nhiễm trùng đường phổi (respiratory tract infections)
- Ung
thư phổi, lao phổi (tuberculosis), viêm phổi (pneumonia) hoặc viêm mù
màng phổi (empyema) đều phô bầy với dấu chỉ hôi miệng. Đây là điểm quan
trọng cho 2 giới y-nha khoa trong phần định bệnh để nhận ra bệnh sớm và
chữa trị kịp thời.
5. Bệnh liên quan tới tai, mũi, họng (ear, nose, throat disorders)
- Các
bệnh viêm mũi, nhiễm trùng các xoang quanh mũi hay bướu trong mũi hoặc
ung thư cổ họng (pharyngeal cancer) đều có thể gây hôi miệng vì người
bệnh có thể không thở được qua đường mũi mà phải thở bằng miệng.
6. Bệnh suy thận (renal failure)
7. Bệnh xơ gan (cirrhosis)
8. Nhiễm trùng nấm (fungal infection)
- Nấm
Cadida mọc trong miệng cũng gây hôi miệng. Nấm Cadida là một loại nấm
gây bệnh hay mọc ở những chỗ ẩm ướt trong cơ thể. Trường hợp này thường
thấy ở những người có bệnh tật làm giảm sức kháng cự của cơ thể như
bệnh AIDs, các bệnh ung thư, tiểu đường v.v… Những người bị nhiễm trùng
nấm Candida thường thở ra mùi ngọt trái cây (sweet, fruit odor). Trong
trường hợp này, những thuốc kháng trị nấm như chlortrimazole hoặc
nystatin có thể dùng để giảm bệnh và chữa trị tình trạng hôi miệng.
9. Hôi miệng tưởng tượng (imaginary halitosis)
Trong
trường hợp hiếm có này, người bệnh nhân có cảm tưởng mình bị hôi miệng
trầm trọng đưa tới việc mọi người xa lánh. Sau khi được khám kỹ lưỡng
mà vẫn không tìm ra nguyên nhân nào rõ rệt, vị bác sĩ sẽ bắt đầu nghĩ
rằng bạn bị bệnh ảo tưởng hôi miệng. Trong vấn đề này thì người bệnh có
thể được gửi tới những vị bác sĩ tâm thần (psychiatrist) để khám nghiệm.
Chẩn bệnh
- Trước
kia, để biết mình có hơi thở hôi hay không, thì chúng ta thử nghiệm
bằng cách liếm trên cổ tay hoặc luồn sợi chỉ nha khoa qua răng rồi đem
lên mũi ngửi để tự xét đoán. Cách này không được chính xác mấy ngoại
trừ chính mình tự giác và chấp nhận rằng mình có bệnh. Cách khác là nhờ
người ngoài, bạn bè hoặc những người trong gia đình “âm thầm mách bảo”.
Cách này tuy hơi xỗ xàng nhưng chỉ có những người thương yêu lo lắng và
gần gũi chúng ta nhất mới bạo dạn “nhắc khéo” được.
-Trong
phần chi tiết nguồn gốc bệnh hôi miệng, phần nhiều lý do gây nên hơi
thở hôi đều phát xuất từ trong miệng, chỉ có một phần rất nhỏ phát
nguồn từ những căn bệnh trong cơ thể. Bởi thế, khám răng và khoang
miệng rất là quan trọng. Ung thư cuống họng, sâu răng, hoặc viêm nướu
răng là những tình trạng chính đưa tới nguồn hôi miệng.
- Những
tình trạng khác như chiếc răng cấm mọc ngầm, kẽ răng tách hở, thức ăn
bám vướng, hoặc những vết trám lồi lõm không mịn màng cũng là những lý
do trực tiếp đưa tới chứng bệnh hôi miệng. Riêng những người bệnh nhân
phải đeo bộ răng giả thì ta nên tháo gỡ ra thường nhật nhất là về ban
đêm khi ta đi ngủ vì lý do như:
1. Khi ta ngủ thì chất lượng nước miếng bị giảm thiếu đi nhiều.
2. Bên trong bộ răng giả là nơi ẩm ướt tạo nên bầu khí lý tưởng cho vi trùng và nấm Candida bám víu và tha hồ tăng trưởng.
3. Vòm nướu răng bị bít kín nên oxygen không được luân chuyển điều hòa.
4. Có thể bị nuốt nghẹn nếu bộ răng giả làm quá nhỏ.
- Khổ
hơn nữa nếu quý vị nào phải cần chất cồn/keo dán để giữ cho bộ răng
mình không bị lung lay hoặc rớt ra thì càng nên tháo ra mỗi ngày.
- Khi
đi khám răng, chúng ta cũng nên hỏi người nha sĩ của mình coi có bị
bệnh nướu răng hay không vì số vi trùng thường hay ần náu trong những
hốc rỗng chung quanh chân răng. Những chất mủ quyện chung với máu tiết
ra từ những chân răng gây nên chứng bệnh hôi miệng kinh niên.
- Các
công cuộc nghiên cứu cho thấy sự quan hệ giữa bệnh viêm nướu răng, bệnh
nha chu và tình trạng hôi miệng. Nếu nha sĩ cho chúng ta biết đang bị
bệnh nướu răng, thì nên chữa trị ngay chứ đừng kéo dài vì căn bệnh sẽ
tiến triển nặng hơn và có thể đưa tới sự rụng răng hoặc lây qua những
vùng khác. Vị nha sĩ có thể thoải mái chữa trị bệnh nướu răng cho bạn
hoặc gửi tới những nha sĩ chuyên khoa về bệnh nướu răng (Periodontist).
- Về
phần khô miệng, chúng ta hiểu bệnh khô miệng có thể do tuổi tác hoặc do
nhiều chứng bệnh khác hoặc do dùng thuốc đưa tới sự giảm thiểu lượng
chất nước bọt. Chúng ta cũng nên để ý hơn các dấu hiệu và triệu chứng
khô miệng bao gồm sự giảm vị giác (decrease of taste sensation), khó
nuốt (difficulty in swallowing), viêm niêm mạc miệng (inflamed oral
mucosa), và sâu răng bò lan (rampant caries) đặc biệt chung quanh phần
cổ răng (cervical tooth margins).
- Trong phần chẩn bệnh,
chúng ta cũng nên cho vị bác sĩ, nha sĩ biết bệnh hôi miệng của mình
bắt đầu từ lúc nào, thường trực (constant) hoặc bất thường lúc có lúc
không (intermittent). Đồng thời, chúng ta cũng nên cho biết thói quen
ăn uống của mình, có hút thuốc lá không, có dùng thuốc tây, ta chữa
bệnh, và liệt kê các tật bệnh đã hoặc đang chữa trị.
- Cách
tốt nhất là chúng ta nên biên vào mảnh giấy và mang theo mỗi khi đi
khám bệnh tất cả căn bệnh mình đang có và các loại thuốc đang dùng ở
nhà, độ lượng thuốc, và cách thức dùng mỗi ngày. Đây cũng là thói quen
tốt nên thực hành và vô cùng hữu dụng khi gặp những trường hợp khẩn cấp.
- Hiện
tại trên thị trường có bán 2 loại máy dùng để chuẩn đoán mùi hôi là máy
PerioTemp và máy Halimeter. Tuy không được chính xác 100%, máy
PerioTemp được dùng để đo nhiệt độ trong hốc răng. Nhiệt khí là sản vật
phụ trong tình trạng bị viêm. So với nhiệt độ bình thường trong cơ thể,
khi mực độ lên cao thì có nghĩa là sự tăng trưởng của vi trùng và sự
tàn phá các mô và tế bào trong người cũng tăng cường.
- Máy
Halimeter là dụng cụ đo lường chất khí sulfur khi ta thở ra. Ống máy
thu hút hơi thở của chúng ta và đo lường chất hydrogen sulfide và chất
methylmercaptan trong hơi khí. Khi số lượng đo 150 parts per million
(ppm) hoặc cao hơn thì ta biết chắc chắn người đó mắc chứng hôi miệng
và cần chữa trị.
Chữa bệnh
- Trong
ngành Y Nha học, việc chữa trị cũng tùy thuộc vào nguyên nhân ta tìm
ra. Sau khi chuẩn bệnh kỹ lưỡng và tìm được nguyên nhân rồi, thì việc
chữa trị rất là dễ dàng (bảng kê 3). Có rất nhiều yếu tố gây ra hôi
miệng. Theo như trình bày ở trên, 90% lý do hôi miệng phát nguồn từ
khoang miệng, răng và lưỡi. Trong trường hợp này thì vệ sinh răng miệng
là cách chữa chính.
- Chúng ta nên đánh răng ít nhất là hai
lần mỗi ngày, đồng thời làm sạch các kẽ răng bằng cách dùng chỉ răng
(dental floss) ít nhất ngày 1 lần: Chúng ta nên tập đánh hoặc nạo mặt
lưỡi, vì lưỡi cũng là chỗ thức ăn hay bám vào nhiều. Chải răng, lưỡi
thật kỹ trước khi đi ngủ ban đêm và vào buổi sáng thức dậy cũng làm
chứng hôi miệng giảm đi. Ta cũng nên dành ít thời giờ đi khám răng ít
nhất một năm 2 lần để chà rửa răng.
- Đây cũng là điểm
thuận tiện để ta biết có bị sâu răng hoặc bị nướu răng. Nếu toàn diện
xương hố răng có độ sâu (6 một hoặc nhiều hơn), người nha sĩ sẽ nạo
chân răng (root planing) hoặc gửi ta đi tới những nha sĩ chuyên khoa về
nướu răng để chữa trị. Nếu chúng ta không còn răng mà phải đeo bộ răng
giả, thì cách vệ sinh cũng cần phải áp dụng mỗi ngày. Theo như trình
bày ở trên, bộ răng giả của chúng ta làm bằng chất nhựa tạo nên cơ hội
thuận tiện cho thức ăn và vi trùng bám vào tạo nên mùi hôi.
- Vì
thế, chúng ta không nên đeo bộ răng giả trong nhiều giờ nhất là khi đi
ngủ. Chúng ta cũng nên chải rửa sạch trong ngoài và ngâm bộ răng giả
trong nước xà bông hoặc chất nước sát trùng (Efferdent, Polident, etc.)
mỗi đêm. Trong miệng thì chúng ta nên dùng bàn chải thật mềm hoặc khăn
bông nhỏ để lau chà vòm nướu.
- Hiện nay chưa xác định được
là nước súc miệng nào tốt và hữu hiệu nhất vì chúng chỉ đơn thuần che
dấu tạm thời mùi hôi miệng từ 30 phút tới 3 tiếng là cùng. Cho nên,
bệnh nhân nên thử sản phẩm ít nhất 2, 3 tuần trước khi thử loại khác,
cho đến khi tìm thấy loại nào có hiệu quả cao và vừa ý mình.
- Có
nhiều loại nước súc iệng với các thành phần khác nhau: có tính sát
khuẩn như cetylpyridium chloride, benzethonium chloride, chlorhexidine,
triclosan; các chất oxýt hóa như chlorine dioxide. Điểm quan trọng về
chất thuốc nước là tất cả nước súc miệng đều chứa chất rượu (alcohol)
có thể làm miệng bị khô, lở loét và đưa tới tình trạng nặng hơn. Những
tác hại khác trong việc dùng thuốc nước như sự thay đổi màu răng, lưỡi
thành nâu (i.e. Peridex stain) hoặc làm thay đổi vị giác (altered taste
sensation).
- Về chứng khô miệng, hiện tại có nhiều dược
phẩm có thể dùng để kích thích tuyến nước bọt hoặc các chất thay thế
(salivary substitutes) giúp cho người bệnh được thoải mái. Điều tiên
quyết là ta nên uống nhiều nước và hạn chế những thức uống có chất
caffeine như cà phê, nước ngọt v.v…
- Nếu phải dùng thuốc
men để chữa trị những bệnh khác trong cơ thể (áp xuất cao, tâm thần,
nghẹt mũi) trong thời gian lâu ngày, thì ta có thể dùng nước bọt nhân
tạo (như Xero-Lube, Salivart) để tránh tình trạng miệng bị khô khan.
Một phương thuốc vạn năng phổ biến là đề nghị dùng thực vật giàu chất
sợi (rubber consistency), nhai kẹo dẻo không đường hoặc kẹo cao su
(sugarless chewing gum). Đây là phương pháp tự nhiên kích thích tuyến
nước bọt và làm tăng cử động lưỡi giúp loại bỏ mảng bám lưỡi, do đó làm
giảm mùi hôi.
Kết luận
- Trong
nhiều trường hợp, mùi hôi là do sự kết hợp của nhiều bệnh lý và điều
trị hiệu quả bằng cách kết hợp các phương pháp điều trị. Sau khi đọc
bài trên, chúng ta biết khoang miệng, hàm răng, mặt lưỡi là nguồn gốc
chính đưa tới tình trạng hôi miệng. Vì thế, người nha sĩ gia đình của
chúng ta nên cần để ý thêm những nguồn gốc lý do đưa tới tình trạng hôi
miệng.
- Quan trọng hơn hết, người nha sĩ còn có trách
nhiệm chỉ dạy cho người bệnh nhân của mình cách gìn giữ chải chuốt và
bảo tồn hàm răng. Nếu bệnh hôi miệng vẫn tiếp tục, người bệnh nhân nên
được gửi đi tới những vị bác sĩ y khoa gia đình hoặc chuyên khoa nội
thương để tìm ra những nguyên cớ khác trong cơ thể. Tuy tình trạng hôi
miệng của mình có thể làm cho mọi người xa lánh, nhưng đừng có vì đó mà
chúng ta phải thất vọng buồn chán và bỏ cuộc.